Chuyển đến nội dung chính
← Quay lại Tin tứcSức khỏe

Nấu chè bằng đường gì: 5 loại đường khác nhau ở vị, màu, dạng

Nấu chè bằng đường gì? Đường cát, đường phèn, thốt nốt, đường nâu, mật mía đều nấu được, khác ở vị, màu, độ tan. Cho đường lúc nào để đậu khỏi sượng.

05/10/2026 Lê Đăng Khương 12 phút đọc 18 lượt đọc
Nấu chè bằng đường gì: 5 loại đường khác nhau ở vị, màu, dạng

Nấu chè bằng đường gì thì ngon? Câu trả lời tuỳ khẩu vị. Đường cát trắng, đường phèn, đường thốt nốt, đường nâu và mật mía đều có trong công thức chè trên báo. Chỗ khác nhau là vị, màu, dạng và độ tan. Bài đi qua từng loại, kèm lúc cho đường và mức đường theo WHO.

Nấu chè bằng đường gì thì hợp với từng món chè?

Chè nấu được bằng cả năm loại đường quen: đường cát trắng, đường phèn, thốt nốt, đường nâu, mật mía. Công thức trên báo dùng đường phèn hoặc thốt nốt cho chè trôi nước, đường nâu hoặc đường phèn cho chè đỗ đen, mật mía cho chè lam. Không có quy tắc chung, chọn theo khẩu vị.

Nấu chè bằng đường gì: năm loại đường quen xếp quanh bát chè trôi nước và chè đỗ đen
Nấu chè bằng đường gì là chuyện khẩu vị: công thức trên báo dùng đường phèn, thốt nốt cho chè trôi nước, mật mía cho chè lam.

Bộ Nông Lâm Thuỷ sản Nhật (MAFF) chia đường làm hai nhóm. Nhóm đã tách mật có đường cát trắng, đường phèn và vài loại khác. Nhóm còn giữ mật có đường đen. Theo Iowa State University Extension (2023), hương, màu và độ ẩm của đường nâu đến từ phần mật thêm vào.

Loại đườngĐặc điểmMón chè có nhắc tới
Đường cát trắngGần như toàn sacarozaChè trôi nước (VnExpress, 2021)
Đường phènTinh thể lớn, tan chậmChè trôi nước, chè đỗ đen (VnExpress)
Đường thốt nốtNấu từ nước hứng ở cuống hoa thốt nốtChè trôi nước (VnExpress, 2021)
Đường nâuMàu, hương, độ ẩm từ mậtChè đỗ đen (VnExpress, 2025)
Mật míaNước mía nấu sền sệtChè ngày Tết, chè lam (Tiền Phong, Hà Nội Mới)
Bảng tự lập. Cột cuối chỉ ghi công thức trên báo, không phải quy tắc.

Bảng không xếp loại nào ngon hơn. Iowa State lấy ví dụ bánh quy: đổi đường trắng sang đường nâu không làm đổi độ ngọt, nhưng bánh sẫm màu, mềm và đậm vị hơn. Với chè, chưa có phép đo tương tự: đổi loại đường có thể làm đổi màu và kết cấu, nhưng đổi nhiều hay ít thì chưa rõ.

Đường cát trắng và đường phèn khác nhau thế nào khi nấu chè?

Đường cát trắng và đường phèn đều chủ yếu là sacaroza, khác nhau ở dạng tinh thể. Đường phèn là một tinh thể lớn, tan từ từ theo thời gian. Đường cát trắng là hạt rời, được Bộ Nông Lâm Thuỷ sản Nhật mô tả có vị ngọt không kèm mùi vị riêng.

Ý về đường phèn dựa trên bài giới thiệu đường phèn của ALIC (2019), Cơ quan Chấn hưng Nông nghiệp và Chăn nuôi Nhật Bản. Cách làm truyền thống ở Nhật bắt đầu từ dung dịch đặc pha từ đường cát trắng. Ở Quảng Ngãi, báo Thanh Niên (2024) cũng tả người làm nghề nấu đường phèn từ đường cát trắng.

  • Đường cát trắng: theo USDA FoodData Central (2019), 100 g đường trắng hạt có 99,8 g sacaroza và 0,02 g nước. Tức là đường cát trắng gần như là sacaroza nguyên chất.
  • Đường phèn: ALIC ghi gia đình Nhật dùng chủ yếu để ngâm rượu trái cây. Loại này còn được dùng nấu đậu ngọt và thịt kho.
  • Bảng của Viện Dinh dưỡng: có mục “Đường kính”, chưa có mục riêng cho đường phèn.

Khi nấu chè bằng đường phèn, điểm cần nhớ là đường tan chậm. Cách làm phổ biến trong bếp gia đình là khuấy, chờ đường tan hết rồi mới nếm. Còn nếu hỏi đường phèn có tốt không, câu trả lời nằm ở thành phần: đường phèn vẫn là sacaroza như đường cát.

Đường thốt nốt, đường nâu, đường đen khác nhau ở màu và mùi ra sao?

Đường nâu có màu và hương từ phần mật, nhạt hay đậm tuỳ lượng mật. Đường đen của Nhật có vị ngọt đậm, hương vị mạnh. Đường thốt nốt làm từ nước hứng ở cuống hoa thốt nốt, được báo tả “vàng ươm”.

Viên đường thốt nốt, đường nâu và đường đen dạng khối trên thớt gỗ
Đường nâu có màu và hương từ phần mật: loại nâu nhạt khoảng 3,5%, loại nâu đậm khoảng 6,5% mật theo khối lượng.
LoạiLàm từMàu, vị theo nguồn
Đường thốt nốtNước hứng từ cuống hoa thốt nốt nấu cô trong ngày, đổ khuôn thành tán (VietnamPlus, 2024)Báo tả thẻ đường “vàng ươm” (lời tả, không phải tiêu chuẩn)
Đường nâuMột cách làm: cho mật trở lại đường trắng, nâu nhạt khoảng 3,5% mật, nâu đậm khoảng 6,5% (theo khối lượng, Illinois Extension)Nâu nhạt màu nâu vàng nhạt tới vừa, mùi vị mật ngọt nhẹ (USDA, 2015)
Đường đen (cách gọi ở Nhật)Nước mía nấu cạn (MAFF)Vị ngọt đậm, hương vị mạnh (MAFF)
Bảng tự lập. Các nguồn tả viên đường, chưa đo màu nước chè.

Có thể nấu chè bằng đường thốt nốt. Bài của VietnamPlus (2024) về nghề làm đường thốt nốt ghi loại đường này dùng “để nấu chè hoặc chế biến các món ăn”. Công thức chè trôi nước trên VnExpress (2021) cũng nấu nước đường bằng đường thốt nốt hoặc đường phèn.

Ở Việt Nam, chưa thấy văn bản chính thức nào định nghĩa “đường đen”. Vì vậy, không nên đánh đồng đường đen của Nhật với đường đen hay đường phên (khác đường phèn) bán trong nước. Theo Báo Cao Bằng (2024), đường phên ở làng nghề Bó Tờ (Cao Bằng) làm từ nước mía nấu đặc, đổ khuôn rồi cắt tấm. Muốn biết nồi chè ra màu gì, anh chị có thể nấu thử một mẻ nhỏ trước.

Nấu chè bằng mật mía được không và đổi lượng thế nào?

Nấu chè bằng mật mía là cách dùng quen ngày Tết của người Việt, theo báo Tiền Phong (2024). Chưa có tỷ lệ chính thức để đổi đường sang mật mía Việt Nam. Mật có nước, nên khi thay đường cần tính cả phần chất lỏng trong nồi.

Chè lam cũng là món dùng mật mía. Theo báo Hà Nội Mới (2019), làng Thạch Xá đun mật mía với mạch nha, nước gừng, nước quế trước khi cho bột bỏng, lạc. Theo lời một người làm nghề được Báo Hà Tĩnh (2020) dẫn, nước mía được nấu tới khi sền sệt và chuyển màu nâu vàng. Mật mía làm như vậy khác rỉ đường (molasses), phụ phẩm sẫm màu của nhà máy đường (Feedipedia, 2015). Vì thế, các số molasses dưới đây không áp thẳng cho mật mía.

  • Tối đa một nửa: theo bảng của Khuyến nông Đại học Bang North Dakota (NDSU), molasses chỉ thay tối đa một nửa lượng đường.
  • Bớt chất lỏng: giảm 1/4 cốc cho mỗi cốc molasses, khoảng 60 ml cho mỗi 240 ml (ước tính theo số công bố).
  • Giới hạn của bảng: đó là molasses kiểu Mỹ, cho nấu nướng và làm bánh nói chung. NDSU cũng lưu ý thay nguyên liệu có thể làm đổi vị, màu, độ ẩm và kết cấu món.
  • Lượng nước: theo USDA FoodData Central (2019), 100 g “molasses” kiểu Mỹ có 21,87 g nước, còn 100 g đường trắng hạt chỉ có 0,02 g.

Nấu chè bằng đường ăn kiêng cần biết gì khi đun nóng?

Đường ăn kiêng là tên gọi chung cho nhiều chất tạo ngọt khác nhau, và mỗi chất chịu nhiệt một kiểu. Theo FDA, aspartame mất vị ngọt khi bị đun nóng, còn acesulfame kali và sucralose vẫn giữ vị ngọt khi nướng bánh. Việc cần làm trước tiên là đọc tên chất trên nhãn.

Ba lọ thuỷ tinh đựng chất tạo ngọt dạng hạt và dạng bột cạnh nồi nhỏ
Theo FDA, aspartame mất vị ngọt khi bị đun nóng, còn acesulfame kali và sucralose vẫn giữ vị ngọt khi nướng bánh.
  • Aspartame: theo trang về chất tạo ngọt của FDA (cập nhật 27/02/2025), chất này không bền nhiệt, nên thường không dùng trong đồ nướng. FDA lưu ý người mắc phenylketonuria (PKU), một rối loạn di truyền hiếm gặp, nên tránh hoặc hạn chế aspartame.
  • Acesulfame kali và sucralose: bền nhiệt, vẫn giữ vị ngọt ở nhiệt độ cao khi nướng bánh.
  • Cỏ ngọt (steviol glycosides): thành phần tự nhiên trong lá cây Stevia rebaudiana, được báo cáo ngọt gấp 200 tới 400 lần đường ăn.
  • Đường rượu như sorbitol, xylitol, erythritol, maltitol: độ ngọt từ 25% tới 100% độ ngọt của đường. Trang FDA không nói về độ bền nhiệt của nhóm này.

Riêng cỏ ngọt có thêm ý kiến khoa học năm 2010 của Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA). Khi có nhiệt độ cao như đun hay nướng, steviol glycosides có thể bị phân huỷ đáng kể. Trong các thí nghiệm, rebaudioside A phân huỷ từ vài phần trăm tới 63%, tuỳ điều kiện bảo quản và chế biến.

Các nguồn trên nói về nướng bánh và thí nghiệm, chưa đo riêng một nồi chè. Con số 200 tới 400 lần là của chất tinh khiết, không phải gói đường ăn kiêng bán lẻ. Lượng dùng thay đường nên theo hướng dẫn in trên bao bì.

Cho đường lúc nào và bao nhiêu là vừa khi nấu chè?

Chè đậu nên cho đường khi đậu đã chín mềm, vì cho sớm dễ làm hạt sượng, theo hướng dẫn trên VnExpress. Lượng đường cho một nồi chè chưa có chuẩn chung. Mốc tham khảo là mức đường tự do cả ngày WHO khuyến nghị: dưới 10% tổng năng lượng.

  • Chè đỗ đen: một bài trên VnExpress (24/11/2025) gọi việc cho đường quá sớm là sai lầm phổ biến khiến chè sượng. Đỗ chưa chín hẳn mà gặp đường thì hạt co lại, cứng và không mềm lại được.
  • Đậu khô: khuyến nông NDSU khuyên cho nguyên liệu nhiều axit hoặc canxi, trong đó có molasses, sau khi đậu đã chín mềm. Cho quá sớm có thể làm đậu không mềm được.
  • Chè không nấu từ đậu khô: chưa thấy hướng dẫn chung về lúc cho đường. Công thức chè trôi nước trên VnExpress (2021) đun nước đường với gừng, khi sôi mới thả bánh.
Mốc của WHO (2015)Quy ra với người lớn ăn 2.000 kcal mỗi ngày (AGES, Cơ quan Y tế và An toàn Thực phẩm Áo)
Đường tự do dưới 10% tổng năng lượng (khuyến nghị mạnh)Không quá 50 g đường, khoảng 10 thìa cà phê
Dưới 5% tổng năng lượng (WHO gợi ý thêm)Không quá 5 thìa cà phê
Nguồn: hướng dẫn của WHO (2015) và bản quy đổi của AGES.

Theo định nghĩa của WHO, đường tự do gồm đường do nhà sản xuất, người nấu hoặc người ăn thêm vào thực phẩm, đồ uống. Đường cát, đường phèn, đường nâu, thốt nốt hay mật mía cho vào nồi chè đều nằm trong nhóm này.

Đường Mía Hà Thủ Ô - Lạc Tiên có dùng nấu chè được không?

Phần dưới đây là nội dung quảng cáo của ABALANCA. Trang sản phẩm Đường Mía Hà Thủ Ô - Lạc Tiên ghi “nấu chè” trong phần cách dùng chế biến thực phẩm. Trang không ghi lượng dùng mỗi lần hay tỷ lệ thay đường cho một nồi chè.

Nồi chè trôi nước đang đun trong nước đường gừng, bên cạnh đĩa gừng tươi thái lát
Trang sản phẩm ghi nấu chè trong phần cách dùng, nhưng không ghi lượng dùng mỗi lần hay tỷ lệ thay đường.

Trang sản phẩm mô tả: “Đường mía kết hợp thảo mộc, dùng thay đường tinh luyện trong nấu ăn và pha uống”. Khối lượng 1 kg, giá niêm yết lúc viết bài là 110.000 đồng. Bảng của NDSU ở mục trên không áp cho sản phẩm này. Anh chị có thể xem thêm các sản phẩm khác của ABALANCA.

  • Thành phần theo thứ tự: mật mía, gừng, cao hà thủ ô, cao lạc tiên, mẫu lệ (vỏ hàu, nguồn gốc động vật), muối.
  • Cách dùng: ăn trực tiếp; pha với nước để uống; hoặc chế biến thực phẩm (nấu ăn, làm bánh, nấu chè, nấu sữa hạt).
  • Hạn và bảo quản: hạn sử dụng tính từ ngày sản xuất là 6 tháng. Để nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp, đậy kín sau khi dùng.

Lưu ý về gan. Đường Mía Hà Thủ Ô - Lạc Tiên có cao hà thủ ô. Năm 2019, Cơ quan Quản lý Hàng hoá Trị liệu Úc (TGA) ra thông báo an toàn về hà thủ ô đỏ. Sản phẩm dạng uống có hà thủ ô đỏ lưu hành theo diện thuốc tại Úc phải in cảnh báo trên nhãn.

Cảnh báo ghi thành phần này có thể gây hại gan ở một số người và nên dùng dưới sự giám sát của chuyên gia y tế. ABALANCA khuyên người có vấn đề về gan, đang dùng thuốc, mang thai hoặc cho con bú hỏi ý kiến chuyên gia y tế trước khi dùng. Mật mía vẫn là đường, cần dùng tiết chế.

Nấu chè bằng đường gì: ba việc nên làm ở lần nấu tới

Câu hỏi nấu chè bằng đường gì không có một đáp án chung cho mọi nhà. Năm loại đường quen đều có chỗ trong công thức chè, chọn loại nào là chọn vị, màu và độ tan. Có ba việc anh chị làm được ngay.

Ba sản phẩm ABALANCA chụp thật, ở giữa là hũ Đường Mía Hà Thủ Ô - Lạc Tiên
Đường Mía Hà Thủ Ô - Lạc Tiên có cao hà thủ ô; người có vấn đề về gan, đang dùng thuốc, mang thai hoặc cho con bú nên hỏi chuyên gia y tế trước khi dùng.
  1. Với chè đậu, ninh đậu chín mềm rồi mới cho đường, như hướng dẫn nấu chè đỗ đen trên VnExpress.
  2. Trước khi dùng đường ăn kiêng, đọc tên chất tạo ngọt trên nhãn, vì theo FDA và EFSA mỗi chất chịu nhiệt khác nhau.
  3. Tính cả phần đường dùng nấu chè vào mức đường tự do trong ngày theo WHO, dù là đường phèn, thốt nốt hay mật mía.

Xem thành phần đầy đủ tại trang sản phẩm trước khi quyết định.

Trang Đường Mía Hà Thủ Ô - Lạc Tiên ghi đủ 6 thành phần, ba cách dùng, cách bảo quản và hạn sử dụng. Anh chị có thể đọc thành phần và cách dùng trên trang sản phẩm trước khi đặt mua.

Chia sẻ
Lê Đăng Khương

Tác giả

Lê Đăng Khương

Founder ABALANCA

Theo dõi trên Facebook